Thứ năm, 21/05/2020 08:25

Ung thư hạch (lymphoma) là bệnh lý ác tính có nguồn gốc từ sự biến đổi của các tế bào lympho trong hệ thống miễn dịch, là một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất trên thế giới và ở Việt Nam. Ung thư hạch được đặc trưng bởi các yếu tố khác nhau, trong đó có sự kích hoạt bất thường của con đường tín hiệu JAK/STAT qua sự hoạt hóa quá mức của các gen STAT và sự rối loạn trong kiểm soát miễn dịch. Nghiên cứu này xác định sự biểu hiện mRNA của các gen liên quan đến con đường JAK/STAT là Klotho, STAT1, STAT3, STAT5STAT6 cùng với các gen kiểm soát miễn dịch là LAG-3, CTLA-4, PD-1 bằng phương pháp real time-PCR để làm rõ vai trò của chúng trong ung thư hạch, đồng thời xác định nồng độ TNF-α trong máu ngoại vi bằng phương pháp ELISA. Kết quả cho thấy biểu hiện của các gen STAT1, STAT3, STAT5 tăng cao ở nhóm bệnh nhân. Ngược lại, LAG-3 có biểu hiện giảm đi ở nhóm bệnh nhân so với nhóm đối chứng. Nồng độ TNF-α xuất hiện ở nhóm bệnh có giá trị trung bình là 7,789 pg/ml, cao hơn rất nhiều so với nhóm đối chứng. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, STAT1, STAT3, STAT5 LAG-3 có thể là các marker phân tử quan trọng và tiềm năng trong chẩn đoán phát hiện sớm ung thư hạch.

Thứ năm, 21/05/2020 08:20

Burkholderia pseudomallei (B. pseudomallei) là một loài vi khuẩn sống trong đất, lây truyền và gây nhiễm melioidosis (hay còn gọi là bệnh Whitmore) cho người và nhiều loài động vật. Đặc điểm sinh học của B. pseudomallei là trực khuẩn Gram âm, oxydase dương, kháng tự nhiên với kháng sinh gentamicin (Gen) và colistin (Col) nhưng nhạy cảm với amoxicillin clavulanic acid (AmC). Để áp dụng đặc trưng điển hình này trong định danh các chủng B. pseudomallei phân lập từ các mẫu bệnh phẩm lâm sàng, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu 169 chủng trực khuẩn Gram âm, oxydase dương phân lập tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 7/2018 đến 12/2018. Kết quả định danh bằng real-time PCR đặc hiệu gene TTSS1, giải trình tự gene recA và 16S rRNA khẳng định 17 chủng là B. pseudomallei. 17 chủng này đều đáp ứng tiêu chí đặc trưng của vi khuẩn B. pseudomallei về nhạy cảm 3 khoanh kháng sinh với đường kính (r) kháng Gen (r=6 mm), kháng Col (r=6 mm) và nhạy AmC (18 mmB. pseudomallei bằng 3 khoanh kháng sinh này là 100%, trong khi đó độ chính xác của phương pháp sinh hóa API 20NE và Vitek 2 lần lượt là 76,4% (13/17) và 29,4% (5/17). 5 chủng vi khuẩn Cupriavidus malaysiensis cũng kháng Gen và Col nhưng đường kính vòng nhạy cảm AmC là khoảng 42-43 mm. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, phương pháp định danh B. pseudomallei bằng 3 khoanh kháng sinh có độ chính xác cao và có thể triển khai tại nhiều phòng xét nghiệm vi sinh ở Việt Nam nhằm hạn chế việc định danh sai vi khuẩn B. pseudomallei và bỏ sót xét nghiệm ca nhiễm melioidosis.

Thứ năm, 21/05/2020 08:15

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh u lympho ác tính không Hodgkin (ULAKH) vùng đầu cổ. Phương pháp nghiên cứu: mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 98 bệnh nhân ULAKH vùng đầu cổ điều trị bằng phác đồ R-CHOP được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Bệnh viện K; nhận xét về các triệu chứng cơ năng, thực thể, toàn thân, xét nghiệm huyết học, mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm tuổi gặp chủ yếu là 51-60. Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là 1/1,09. Thời gian khởi bệnh đến khi được chẩn đoán chủ yếu ≤3 tháng. Vị trí hay gặp nhất: amidan 42,9%, hạch cổ 34,7%, vòm 5,1%. Triệu chứng hay gặp là nuốt đau, nuốt vướng và hạch cổ. Vị trí hiếm gặp như ở hốc mắt 3,1%, hốc mũi 6,1% và đáy lưỡi 8,2%. Triệu chứng có hạch to gặp 34,7%. Giai đoạn theo Ann-Arbor chủ yếu là giai đoạn II, chiếm 57,1%. Hội chứng B gặp 15,3% và chủ yếu là giai đoạn II. Mô bệnh học hay gặp nhất là thể B lớn lan tỏa (diffuse large B-cell lymphoma - DLBCL) 70,4%, u lympho thể nang 7,14%, u lympho tế bào áo nang 8,18%. Loại mô bệnh học hay gặp nhất là WF6 và WF7. Qua nghiên cứu có thể kết luận: ULAKH vùng đầu cổ hay gặp nhất là ở vòng Waldeyer và amidan với triệu chứng biểu hiện tại chỗ là chủ yếu, giai đoạn II, mô bệnh học chủ yếu là DLBCL.

Thứ năm, 21/05/2020 08:10

Ngón tay cái chiếm 50% chức năng của bàn tay. Hiện nay trên thế giới, phẫu thuật chuyển ngón chân phục hồi ngón tay cái bằng kỹ thuật vi phẫu là phương pháp được lựa chọn hàng đầu cho tổn thương này. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của phẫu thuật này trên người ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2015 đến 3/2018 theo phương pháp tiến cứu trên 30 bệnh nhân (BN) có tuổi trung bình là 28,6 (7-55 tuổi), tỷ lệ nam/nữ là 25/5. Có 6 mỏm cụt ngón cái kèm theo mất toàn bộ cơ ô mô cái được tạo hình bằng vạt ngón chân cái thu nhỏ lấy trên khớp bàn ngón chân; 24 mỏm cụt ngón cái còn ô mô cái được tạo hình bằng 6 vạt ngón chân cái thu nhỏ và 18 vạt ngón chân thứ 2. Kết quả cho thấy, sau mổ trung bình 19 tháng (12-33 tháng), 100% ngón chuyển sống hoàn toàn. Với kết quả xa, điểm phân biệt cảm giác 2 điểm tĩnh trung bình là 13,4 mm, 5/30 trường hợp (16,7%) bị lệch trục ngón chuyển, 13/30 trường hợp (43,3%) bị biến chứng dính gân. Tất cả các BN đều có thể sử dụng chủ động ngón chuyển trong sinh hoạt và lao động hàng ngày. Với 6 mỏm cụt ngón cái không còn ô mô cái: 4/6 trường hợp phục hồi được động tác đối chiếu cơ bản của ngón cái. Với 24 mỏm cụt ngón cái còn ô mô cái: điểm đối chiếu Kapandji trung bình là 8,2; lực nắm và lực nhón trung bình lần lượt là 80,7 và 51,7% so với bên lành. Như vậy, phẫu thuật chuyển ngón chân phục hồi ngón tay cái là an toàn, với tỷ lệ thành công cao (100%), cho kết quả phục hồi chức năng tốt về vận động và cảm giác.

Thứ năm, 21/05/2020 08:05

Bài báo mô tả các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật 5 bệnh nhân (4 nữ và 1 nam) u tủy tại Bệnh viện Quân y 7A từ tháng 12/2016-12/2019. Tuổi trung bình của 5 bệnh nhân này là 44,2 (độ tuổi 27-63). Các triệu chứng hay gặp là đau cột sống (5/5 bệnh nhân), rối loạn cảm giác (4/5 bệnh nhân), rối loạn vận động (3/5 bệnh nhân). Vị trí u thường gặp ở vùng ngực thấp - lưng. 3/5 bệnh nhân trải qua phẫu thuật giải ép tủy. Loại u gồm 4/5 bệnh nhân u rễ thần kinh nằm ngoài tủy trong màng cứng tủy và 1/5 bệnh nhân sarcoma nằm ngoài màng cứng tủy, trong ống sống. Không có biến chứng trong quá trình mổ. Kết quả hồi phục sau mổ tốt. 5/5 bệnh nhân hồi phục hoàn toàn vận động và cảm giác. Tiên lượng và kết quả phẫu thuật u tủy lành tính thường là rất tốt. Hiện nay, phẫu thuật cắt bỏ u tủy sống là một phương pháp tối ưu, giúp cải thiện chức năng thần kinh sau mổ.

Thứ năm, 21/05/2020 08:00

Stress oxy hóa là một trong những nguyên nhân gây bệnh tật cho con người, chủ yếu là do tình trạng mất cân bằng của các chất oxy hóa với các chất kháng oxy hóa bảo vệ trong cơ thể. Do đó để nâng cao sức khỏe, hiện nay, các sản phẩm nguồn gốc tự nhiên chứa các chất kháng oxy hóa thường được sử dụng. Các cây thuộc họ Gừng đã được biết chứa nhiều hợp chất kháng oxy hóa tự nhiên. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa của các cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma aromatic Salisb.) và Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.) bằng cách sử dụng các phương pháp thử nghiệm khác nhau như phương pháp DPPH, ABTS•+ và năng lực khử (Reducing power). Ngoài ra, hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng trong các dịch trích cũng được xác định. Kết quả cho thấy, các cao chiết đều chứa hàm lượng lớn các hợp chất polyphenol tổng và flavonoid tổng. Ngải trắng và Gừng gió thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa tốt hơn so với Ngải tím trong các phương pháp thử nghiệm. Nghiên cứu này cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng các loài thực vật tự nhiên này vào lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.

Thứ sáu, 28/02/2020 09:25

Liệu pháp miễn dịch sử dụng tế bào lympho tự thân là một trong những liệu pháp điều trị kết hợp an toàn và khá hiệu quả cho nhiều loại ung thư hiện nay, trong đó có ung thư phổi. Mục đích của nghiên cứu là hoàn thiện quy trình tách chiết, nuôi cấy hoạt hóa tế bào gamma delta T (γδT) trên bệnh nhân ung thư phổi. 10 bệnh nhân ung thư phổi được lựa chọn vào nghiên cứu, mỗi bệnh nhân được thu thập 10 ml máu, tiến hành tách chiết, nuôi cấy hoạt hóa, tăng sinh, đánh giá hoạt tính miễn dịch. Kết quả cho thấy, số lượng tế bào γ T tách từ 10 ml máu ngoại vi của bệnh nhân ung thư phổi là 1,96x104 tế bào. Sau 14 ngày nuôi cấy, số lượng tế bào lympho thu được trung bình là 2,93x108, tỷ lệ sống trung bình đạt 90%, trong đó, tế bào γδT chiếm 83,2% quần thể tế bào thu được. Tế bào γδT sau nuôi cấy thể hiện các hoạt tính miễn dịch như khả năng gây độc cho tế bào ung thư và tăng tiết các cytokine như IFNγ.

Thứ sáu, 28/02/2020 09:20

Từ tháng 2/2015 tới 11/2019, Học viện Quân y đã nghiên cứu xây dựng và áp dụng thành công quy trình chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi bệnh teo cơ tủy (spinal muscular atrophy - SMA). Nghiên cứu bước đầu ứng dụng quy trình này được thực hiện trên 6 cặp gia đình mang đột biến mất đồng hợp exon 7 gen SMNt gây bệnh SMA. Máu ngoại vi bố, mẹ được tách ADN, sinh thiết 1-2 tế bào từ các phôi thụ tinh trong ống nghiệm phát triển đến ngày 3 hoặc ngày 5 của các cặp gia đình này, nhân toàn bộ gen các mẫu phôi sinh thiết, phát hiện đột biến gây bệnh trên máu bố mẹ và phôi bằng phương pháp PCR-RFLP, chọn phôi lành chuyển vào người mẹ để sinh ra trẻ khỏe mạnh.

Thứ sáu, 28/02/2020 09:15

Tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21-hydroxylase là bệnh gây nên do đột biến gen CYP21A2, dẫn đến sự mất hoặc thiếu hụt enzym 21-hydroxylase, một enzym then chốt tham gia vào quá trình tổng hợp cortisol, dẫn đến hậu quả là không tổng hợp hoặc giảm tổng hợp cortisol, tăng tổng hợp testosterone đưa đến hình ảnh lâm sàng suy thượng thận cấp, nam hóa đơn thuần ở trẻ gái và dậy thì sớm ở trẻ trai. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng và được phân loại thành 3 thể bệnh chính: mất muối, nam hóa đơn thuần, không cổ điển. Việc phân loại thể bệnh và theo dõi đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: Xác định Tỷ lệ các thể bệnh và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu hụt enzym 21-hydroxylase. 209 bệnh nhân được phân tích và đánh giá đặc điểm lâm sàng của tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Kết quả cho thấy, đã phát hiện được 77% bệnh nhân thể mất muối, 21% thể nam hóa đơn thuần chiếm và 2% mắc thể không cổ điển. Bệnh nhân thể mất muối và thể không cổ điển được chẩn đoán sớm hơn (32 ngày và 18,5 ngày) so với bệnh nhân thể nam hóa đơn thuần (1590 ngày) (p<0.001). Thể bệnh mất muối có Tỷ lệ nam/nữ gần tương đương nhau (nam 46,6% và nữ 54,4%). Thể nam hóa đơn thuần có Tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn (81,8% nữ và 18,2% nam). Mơ hồ giới tính ở bệnh nhân nữ ở cả ba thể mất muối, nam hóa đơn thuần và không cổ điển là tương đương nhau ( lần lượt 96%, 97%, và 100%). Cơn suy thượng thận cấp chỉ xuất hiện ở bệnh nhân thể mất muối với Tỷ lệ ở nam là 91,8%, ở nữ là 78,6%.

Thứ sáu, 28/02/2020 09:10

Đột quỵ (ĐQ) là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mất chức năng kéo dài ở người trưởng thành. Nhiều phương pháp của y học cổ truyền (YHCT) đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị phục hồi sau ĐQ như châm cứu cải tiến, dùng Bổ dương hoàn ngũ thang... Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây hầu hết chỉ tập trung điều trị sau ĐQ giai đoạn sớm và chưa chú trọng điều trị hội chứng bệnh theo YHCT. Thận âm hư (TAH) là một trong các hội chứng YHCT thường gặp nhất sau ĐQ và Lục vị là một bài thuốc cổ điển thường được dùng trong điều trị hội chứng này. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu trả lời câu hỏi: nếu sử dụng bài thuốc Lục vị phối hợp với châm cứu cải tiến + vật lý trị liệu + Bổ dương hoàn ngũ thang thì mức độ cải thiện các triệu chứng TAH như thế nào, qua đó có làm tăng hiệu quả phục hồi vận động trên bệnh nhân ĐQ đến trễ sau 3 tháng thuộc hội chứng này hay không? Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2013 đến tháng 9/2019 trên 152 bệnh nhân liệt 1/2 người sau ĐQ trên 3 tháng có hội chứng TAH, được phân thành hai nhóm: nhóm 1 được điều trị phối hợp châm cứu cải tiến, vật lý trị liệu và Bổ dương hoàn ngũ thang; nhóm 2 được điều trị phối hợp châm cứu cải tiến, vật lý trị liệu, Bổ dương hoàn ngũ thang và Lục vị. Thời gian điều trị là 40 ngày (10 ngày/liệu trình). Kết quả cho thấy, sau điều trị, nhóm điều trị Lục vị phối hợp với châm cứu cải tiến, vật lý trị liệu và Bổ dương hoàn ngũ thang có sự cải thiện các triệu chứng của TAH trong YHCT, ngoài ra còn giúp tăng chỉ số Barthel, tăng số vòng trung bình bỏ được trong 1 phút và giảm thời gian trung bình đi 10 m nhiều hơn so với nhóm không sử dụng Lục vị (p<0,05). Như vậy có thể kết luận: phối hợp Lục vị với châm cứu cải tiến, vật lý trị liệu và Bổ dương hoàn ngũ thang giúp cải thiện đáng kể các triệu chứng TAH và qua đó làm tăng phục hồi vận động trên bệnh nhân ĐQ đến trễ sau 3 tháng có hội chứng TAH.

1 2 3 4 5 ... 14