https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/issue/feed Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-10-25T00:00:00+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam khcnvn@mst.gov.vn Open Journal Systems https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3786 Tác động của hiệu ứng bầy đàn đến hành vi mua hàng ngẫu hứng trên TikTok: Vai trò điều tiết của mối quan hệ giả xã hội 2025-12-29T11:10:31+07:00 Trần Hải Ly tranhaily@ftu.edu.vn Hoàng Quốc Việt <p><strong>Nghiên cứu này phân tích tác động của hiệu ứng bầy đàn đến hành vi mua hàng ngẫu hứng trên nền tảng TikTok tại Việt Nam, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của mối quan hệ giả xã hội giữa người dùng và người ảnh hưởng. Dựa trên khung lý thuyết Kích thích - Trạng thái nội tại - Phản ứng (S-O-R), lý thuyết hiệu ứng theo đám đông và lý thuyết tương tác giả xã hội, nghiên cứu đề xuất và kiểm định mô hình với ba giả thuyết. Dữ liệu được thu thập từ 376 người dùng TikTok trẻ tuổi tại Việt Nam và được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy, hiệu ứng bầy đàn có tác động tích cực đến hành vi mua hàng ngẫu hứng (β=0,191). Đồng thời, mối quan hệ giả xã hội với người ảnh hưởng cũng có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến hành vi này (β=0,336). Đặc biệt, mối quan hệ giả xã hội đóng vai trò điều tiết tích cực trong mối quan hệ giữa hiệu ứng bầy đàn và hành vi mua hàng ngẫu hứng (β=0,267). Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế kết hợp giữa ảnh hưởng xã hội và gắn kết cảm xúc trong việc hình thành hành vi mua sắm ngẫu hứng trên nền tảng thương mại xã hội.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3500 Mối quan hệ của bảo mật Web đối với thái độ và hành vi tiêu dùng tiềm năng: Nghiên cứu trường hợp dịch vụ ví điện tử tại TP. Hồ Chí Minh 2025-06-28T13:32:54+07:00 Trần Thanh Phong*, Hầu Võ Thái Nguyên, Nguyễn Tấn Danh, Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Phúc Bảo <p><strong>Mục đích của nghiên cứu là xem xét vai trò của tính bảo mật Web (WEBS) đối với dự định sử dụng dịch vụ ví điện tử trong mô hình nhận thức rủi ro (Theory of Perceived Risk - TPR). Nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn, nghiên cứu định tính (thảo luận nhóm) và nghiên cứu định lượng (kiểm định mô hình cấu trúc - SEM). Một mẫu phát triển mầm gồm 431 khách hàng tiềm năng tại TP. Hồ Chí Minh sử dụng dịch vụ ví điện tử được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu dây chuyền để kiểm tra mô hình lý thuyết. Với độ tin cậy được lựa chọn trong nghiên cứu là 95%, kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả 5 giả thuyết có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, WEBS có tác động thuận chiều đến thái độ nhận thức (COGA) và thái độ cảm xúc (AFFA). Đồng thời, cả 2 biến thái độ đều có tác động tới ý định hành vi (BEHI) sử dụng dịch vụ này. Ngoài ra, WEBS có ảnh hưởng trực tiếp đến BEHI. Cuối cùng, dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất cho các công ty FinTech (công nghệ tài chính) cung cấp dịch vụ ví điện tử cần xây dựng tốt chính sách bảo mật nhằm thu hút người dùng.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3070 Du lịch hướng nội: Đề xuất khung khái niệm 2024-11-19T01:14:16+07:00 Trần Tuyên <p><strong>Trong bối cảnh xã hội đương đại đối diện với nhiều bất định, áp lực tinh thần và khủng hoảng ý nghĩa sống, du lịch ngày càng vượt khỏi chức năng giải trí để trở thành không gian phục hồi, tự nhận thức và tái kết nối nội tâm. Dựa trên phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phân tích khái niệm, bài báo đối thoại với các dòng nghiên cứu liên quan như du lịch chánh niệm, du lịch chữa lành, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch chuyển hóa, tâm lý học tích cực và tính xác thực hiện sinh. Nghiên cứu này đề xuất khái niệm du lịch hướng nội với sáu hợp phần: tự nhận thức, chánh niệm, khám phá giá trị sống, chữa lành và tái tạo, ý nghĩa hóa trải nghiệm, cùng siêu vượt bản thân và kết nối liên chủ thể. Đây là một tiếp cận lý thuyết mới nhằm lý giải sự chuyển dịch từ du lịch hướng ngoại, tiêu dùng trải nghiệm sang những hành trình giúp con người lắng nghe bản thân, nhận diện cảm xúc, tái cấu trúc giá trị sống và tìm kiếm sự quân bình tinh thần. Bài báo qua đó mở rộng cách hiểu về du lịch như một không - thời gian nhân bản cho sự tự phản tỉnh, hạnh phúc dựa trên ý nghĩa và phát triển bản thân. Việc đề xuất các hợp phần, kỹ thuật thực hành và cơ chế vận hành cho thấy tiềm năng ứng dụng của tiếp cận này trong phát triển sản phẩm, thiết kế điểm đến và chăm sóc sức khỏe tinh thần.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4057 Tác động của chính sách phát hành trái phiếu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty xuất nhập khẩu nông sản tại Việt Nam 2026-06-09T06:47:02+07:00 Bùi Phương Chi chibuiphuong@gmail.com Nguyễn Thế Quang thequang812@gmail.com <p><strong>Nghiên cứu này phân tích tác động của hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) của 63 công ty niêm yết trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nông sản ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2023. Tác giả xây dựng mô hình hồi quy đa biến, sử dụng biến giả phát hành trái phiếu BOND làm thước đo cho giai đoạn áp dụng các quy định khắt khe về công bố thông tin trái phiếu theo Nghị định số 163/2018/ NĐ-CP ngày 4/12/2018 của Chính phủ có hiệu lực kể từ ngày 1/2/2019. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng, yêu cầu minh bạch hóa có mối tương quan nghịch biến có ý nghĩa thống kê đối với cả hai chỉ tiêu ROA và ROS. Ngược lại, quy mô doanh nghiệp và tính thanh khoản đóng góp tích cực vào việc cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh. Phát hiện này cho thấy, áp lực suy giảm lợi nhuận ngắn hạn khi doanh nghiệp phải tuân thủ chuẩn mực công bố thông tin mới, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiện toàn hành lang pháp lý về minh bạch thông tin trái phiếu và thúc đẩy các dịch vụ xếp hạng tín nhiệm nhằm hỗ trợ thị trường nợ phát triển bền vững.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4047 Chuyển đổi số, fintech và tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp dữ liệu xanh tại Việt Nam 2026-06-05T17:35:42+07:00 Trần Văn Dũng vumackenzie.vn@gmail.com <p><strong>Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi nền tảng vận hành của nông nghiệp, từ phương thức chú trọng sản lượng sang phương thức tổ chức sản xuất và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Trong tiến trình đó, công nghệ số, công nghệ tài chính (fintech) và tài chính xanh có thể tạo thành một hệ thống động lực liên kết, hỗ trợ nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững. Với mục tiêu đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế số, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp phân tích pháp luật, thể chế, chính sách công và so sánh kinh nghiệm quốc tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2020-2026, gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và báo cáo của các tổ chức quốc tế, chuyên gia và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kết quả phân tích cho thấy, những điểm hạn chế chủ yếu hiện nay liên quan đến hạ tầng dữ liệu nông nghiệp; hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV); quy mô tín dụng xanh; mức độ phát triển của thị trường carbon và cơ chế định giá rủi ro khí hậu. Từ các phát hiện đó, nghiên cứu kiến nghị một khung chính sách tích hợp bốn phương diện dữ liệu, công nghệ, tài chính và môi trường nhằm thúc đẩy nông nghiệp dữ liệu xanh, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3949 Khung chính sách phát triển nguồn nhân lực đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam: Định hướng chiến lược và thể chế 2026-04-16T11:03:49+07:00 Nguyễn Văn Nghĩa Nguyễn Lương Hải Lưu Bích Ngọc Bùi Thị Phương Thảo <p><strong>Bài báo nghiên cứu nhóm chính sách định hướng chiến lược và thể chế (SI) trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ hệ thống đường sắt tốc độ cao (HSR) tại Việt Nam. Trên cơ sở tích hợp ba nền tảng lý thuyết - vốn nhân lực, chính sách công và thể chế - bài báo đề xuất khung gồm 6 chính sách cụ thể (SI1-SI6): chiến lược quốc gia về HSR và nhân lực; tích hợp chiến lược liên ngành; tính ổn định pháp lý; cơ chế phối hợp liên bộ ngành; phân cấp và trách nhiệm giải trình; và hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực. Nghiên cứu xác định nhóm chính sách SI là tầng nền tảng quyết định hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực HSR thông qua việc định hình các quy tắc, cơ chế phối hợp và động lực hành vi của các chủ thể liên quan. Kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết khoảng trống lý luận về chính sách thể chế trong phát triển nguồn nhân lực HSR tại các quốc gia đang phát triển, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách phát triển nhân lực HSR tại Việt Nam. Trong bối cảnh triển khai dự án HSR chưa có tiền lệ, việc ưu tiên xây dựng nền tảng thể chế sớm, đặc biệt là thể chế hóa đơn vị đầu mối chuyên trách và hệ thống dự báo nhân lực, có ý nghĩa chiến lược vượt trội so với việc chỉ mở rộng quy mô đào tạo.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3748 Giải pháp chuyển đổi đất nông nghiệp nhiễm mặn, kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long 2025-11-24T04:05:51+07:00 Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Tiến Hưng*, Nguyễn Phương Thảo Ngô Thế Anh, Nguyễn Hạnh Luyến <p><strong>Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở cuối nguồn của sông Mê Kông, với hai mặt giáp biển (biển Đông và biển Tây). Vì vậy, vùng chịu ảnh hưởng rất lớn của xâm nhập mặn (XNM) dưới tác động của thủy triều biển Đông, biển Tây và các công trình điều tiết nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đây là nguyên nhân chính làm cho quá trình XNM của vùng trở nên nghiêm trọng hơn, làm suy giảm tài nguyên nước ngọt, đe dọa hệ sinh thái nông nghiệp của vùng… Điều này nhấn mạnh yêu cầu cần xây dựng các định hướng và giải pháp chuyển đổi đất nông nghiệp bị nhiễm mặn, sản xuất kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản (NTTS). Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu thực địa, kiểm chứng với phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích kinh tế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc chuyển đổi, xoay trục sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mặt nước nhiễm mặn hoặc có nguy cơ nhiễm mặn trước tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng ở vùng ĐBSCL. Việc chuyển đổi phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về đất đai và Luật Trồng trọt.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3861 Quản lý tài sản trí tuệ trong liên kết thông tin khoa học và công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo 2026-03-02T11:46:47+07:00 Lê Tùng Sơn Lê Thị Bắc Thân Văn Diễn <p><strong>Bài viết phân tích vấn đề quản lý tài sản trí tuệ trong liên kết thông tin khoa học và công nghệ (KH&amp;CN) giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI). Bằng việc phân tích văn bản pháp luật, so sánh pháp luật và mô hình hóa khái niệm, nghiên cứu này tập trung vào các nguồn tin KH&amp;CN mà hoạt động liên kết chủ yếu làm phát sinh vấn đề quyền tác giả, không bao gồm việc chuyển giao hoặc khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với chính giải pháp kỹ thuật. Trạng thái công bố hợp pháp và được phép tiếp cận chỉ là một điều kiện để áp dụng các quy phạm về huấn luyện AI, trong khi các tác phẩm truy cập mở có chế độ quyền rất khác nhau, từ đó làm phát sinh bất định pháp lý và chi phí giao dịch. Nghiên cứu nhận diện ba khoảng trống vận hành, gồm thiếu tiêu chí phân định mục đích khai thác, thiếu hạ tầng thực hiện quyền bảo lưu, và thiếu tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả để giải quyết vấn đề này. Bằng việc đối chiếu kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Đức và Hoa Kỳ, bài viết đề xuất mô hình Liên hiệp thông tin KH&amp;CN, định vị là tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả đối với nguồn tin KH&amp;CN, kèm cơ chế ủy quyền gồm ba nội dung và kiến trúc vận hành bốn dòng lưu chuyển.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4079 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở vùng Tây Bắc: Nghiên cứu trường hợp tại xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai 2026-06-16T12:23:33+07:00 Nguyễn Hoàng Ngân hoangngan27122004@gmail.com Lê Thị Thu Hương ltthuong@vnua.edu.vn Lưu Văn Duy luuvanduy@vnua.edu.vn <p style="font-weight: 400;"><strong>Nghiên cứu đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại đơn vị hành chính cấp xã sau sáp nhập ở vùng Tây Bắc, trường hợp nghiên cứu tại xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai. Dựa trên số liệu thứ cấp và kết quả khảo sát 27 cán bộ cùng 90 hộ thụ hưởng chính sách, kết quả cho thấy, tỷ lệ nghèo đa chiều của xã giảm từ 7,27% năm 2023 xuống còn 3,53% năm 2025; các chính sách hỗ trợ về dịch vụ xã hội cơ bản, sinh kế, việc làm và điều kiện sống đã góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách còn hạn chế bởi nguồn lực eo hẹp, một số hỗ trợ chưa sát nhu cầu thực tế, năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu. Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo ở Tây Bắc, cần tăng cường rà soát, phân loại hộ nghèo; hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch; đổi mới hoạt động tuyên truyền; tăng cường huy động và lồng ghép các nguồn lực; tập trung hỗ trợ sinh kế, vay vốn, tạo việc làm và tăng cường giám sát thực hiện chính sách.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3575 Tái cấu trúc thẩm quyền quản lý đất đai: Yêu cầu cấp thiết từ mô hình chính quyền hai cấp 2025-08-05T04:12:12+07:00 Nguyễn Vân Anh vananhsokhvt@gmail.com <p><strong>Trong kỷ nguyên hiện đại, quỹ đất là nền tảng không gian cốt lõi kiến tạo chuỗi cung ứng toàn cầu và hệ sinh thái logistics. Sự vận hành thông suốt của mạng lưới này phụ thuộc vào tính minh bạch của hành lang pháp lý đất đai. Bài báo phân tích tác động khi bãi bỏ cấp huyện, vận hành chính quyền hai cấp từ 1/7/2025, nhằm chỉ ra các điểm “vênh” thẩm quyền trong Luật Đất đai 2024. Nghị định số 151/2025/NĐ-CP và Nghị định số 226/2025/NĐ-CP bước đầu chỉ là giải pháp tình thế để phân định quản lý cơ sở. Dưới nhãn quan chuyên ngành và định hướng đào tạo logistics tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, các rào cản pháp lý này vẫn làm đứt gãy tính đồng bộ. Do vậy, sửa đổi toàn diện Luật Đất đai 2024 nhằm luật hóa phân cấp thẩm quyền là tất yếu. Hoàn thiện thể chế không chỉ tạo đòn bẩy khơi thông hạ tầng logistics bền vững, mà còn bồi đắp luận cứ khoa học phục vụ chiến lược giảng dạy ngành logistics tại các trường đại học tại Việt Nam.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3764 Nhìn lại hợp tác Việt Nam - UNESCO trong lĩnh vực khoa học tự nhiên: Dấu ấn của ngoại giao khoa học 2025-12-04T02:43:54+07:00 Trịnh Quỳnh Trang tqtrang@mst.gov.vn <p><strong>Khoa học và công nghệ ngày càng được khẳng định là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, ngoại giao khoa học đã và đang được sử dụng như một công cụ quan trọng để vừa tranh thủ nguồn lực cho phát triển, vừa tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế. Trên nền tảng 50 năm hình thành và phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), sự tham gia sâu rộng của Việt Nam vào các chương trình của UNESCO như Sáng kiến Con người và Sinh quyển (MAB), Ủy ban Hải dương học Liên chính phủ (IOC) và Chương trình Thủy văn Quốc tế (IHP) là những minh chứng cụ thể cho mục tiêu lấy ngoại giao khoa học phục vụ sự phát triển của đất nước. Trên cơ sở lý luận về ngoại giao khoa học trong khuôn khổ của UNESCO, nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO về khoa học tự nhiên, làm rõ một số khoảng trống chính sách cản trở quá trình hợp tác này và khuyến nghị một số chính sách đối với Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả hợp tác giữa hai bên về khoa học tự nhiên.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3485 Ấn Độ và Trung Quốc tại Đông Nam Á: Cuộc đua về ảnh hưởng chiến lược 2025-06-23T05:53:26+07:00 Nguyễn Thu Trang trangkum91@gmail.com <p><strong>Sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa Ấn Độ và Trung Quốc tại Đông Nam Á ngày càng gia tăng trong bối cảnh tái cấu trúc trật tự khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Dưới thời Thủ tướng Narendra Modi, Ấn Độ theo đuổi chính sách “Hành động hướng Đông” như một chiến lược đối trọng với Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc. Nghiên cứu tập trung phân tích mối cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia trong ba lĩnh vực: kinh tế, ngoại giao và an ninh năng lượng, giai đoạn từ năm 2014 đến 2025. Về phương pháp, bài viết vận dụng cách tiếp cận phân tích chính sách và lý thuyết cạnh tranh quyền lực trong quan hệ quốc tế để lý giải động lực chiến lược của Ấn Độ và Trung Quốc. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng kết hợp giữa phân tích nội dung văn kiện chính sách, so sánh định hướng chiến lược và nghiên cứu tình huống tại một số quốc gia ASEAN. Kết quả là Trung Quốc duy trì ưu thế nhờ năng lực tài chính và mạng lưới thiết chế sâu rộng, trong khi Ấn Độ dù gia tăng can dự nhưng vẫn bị giới hạn bởi năng lực triển khai. Cuộc cạnh tranh này không chỉ định hình lại cán cân quyền lực khu vực mà còn đặt ra thách thức cho ASEAN trong việc duy trì cân bằng chiến lược.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4154 Nâng cao kỹ năng dẫn chương trình song ngữ tại Đài Truyền hình Việt Nam 2026-07-19T19:31:58+07:00 Phạm Minh Duy mc.minhduy26011@gmail.com <p><strong>Bài báo làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng dẫn chương trình song ngữ tại Đài Truyền hình Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, phân tích nội dung, phân tích diễn ngôn và quan sát có cấu trúc đối với một số chương trình, sự kiện có yếu tố quốc tế như <em>Follow Us</em>, <em>Flavours and Beyond</em>, <em>Crosstalk Bizline</em>, <em>I-Report</em>, <em>Showtime</em>, <em>Speak Like a Local</em>, <em>Hello Vietnam</em> và <em>Việt Nam đến và yêu</em>. Trên cơ sở bảy nhóm kỹ năng gồm nắm bắt nội dung, sử dụng giọng nói và hình thể, phỏng vấn, tương tác, xử lý tình huống, làm chủ không gian - thời gian và sử dụng ngôn ngữ, bài báo đánh giá những biểu hiện nổi bật và hạn chế về kỹ năng dẫn chương trình song ngữ tại Đài Truyền hình Việt Nam trong phạm vi mẫu khảo sát. Từ đó, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng kỹ năng dẫn chương trình truyền hình song ngữ tại Đài Truyền hình Việt Nam.</strong></p> 2026-10-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam