Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b
vi-VNBản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam1859-4794Nghiên cứu tính chất quang của vật liệu MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub>:Eu<sup>3+</sup> tổng hợp bằng phản ứng pha rắn
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3298
<p><strong>Các chất phát quang MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub>:Eu³⁺ phát xạ màu đỏ đã được tổng hợp bằng phản ứng pha rắn cải tiến. Vật liệu được hình thành và đơn pha ở nhiệt độ nung trên 1200<sup>o</sup>C, có cấu trúc spinel dạng lập phương. Kết quả phân tích hình ảnh FESEM vật liệu cho kích thước hạt từ 500 nm đến 1 µm. Phổ kích thích huỳnh quang (PLE) cho thấy các mẫu thu được có dải hấp thụ rộng trong khoảng 270-500 nm, với đỉnh hấp thụ mạnh tại 272, 394 và 465 nm. Trong đó, đỉnh hấp thụ ở bước sóng ~394 nm có thể được gán cho sự chuyển mức năng lượng <sup>7</sup>F<sub>0</sub>→<sup>5</sup>L<sub>6</sub> của ion Eu<sup>3+</sup>. Dưới sự kích thích ở bước sóng 394 nm, vật liệu MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub>:Eu³⁺ phát xạ mạnh vùng cam - đỏ (bước sóng từ 570 đến 700 nm) với các đỉnh phát xạ đỏ mạnh nhất ở 613 và 616 nm. Cường độ phát quang (PL) cao nhất được quan sát khi nhiệt độ nung mẫu ở 1300°C. Các kết quả này cho thấy tiềm năng lớn trong việc sử dụng bột huỳnh quang MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub>:3%Eu³⁺ phát quang màu đỏ cho các ứng dụng WLED.</strong></p>Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Văn Quang*
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3298Bước đầu xác định bisphenol A và 4-nitrophenol trong bụi PM<sub>2.5</sub> tại nội đô Hà Nội, Việt Nam
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3164
<p><strong>Ô nhiễm bụi PM<sub>2.5</sub> trong môi trường không khí đô thị tại Việt Nam là vấn đề đáng lo ngại do những tác động bất lợi đối với môi trường và sức khỏe con người. Sự gia tăng số lượng các dạng và loại chất ô nhiễm mới, khó phát hiện trong các thành phần môi trường đang trở thành mối đe dọa cho cộng đồng. Trong nghiên cứu này, các chất gây rối loạn nội tiết (bisphenol A - BPA và 4-nitrophenol - 4NP) bước đầu được phân tích trong bụi PM2.5 sử dụng thiết bị sắc ký khí khối phổ (GC/MS). Kết quả cho thấy, BPA và 4NP được phát hiện trong 96,4 và 100% mẫu bụi PM<sub>2.5</sub> thu thập tại hai khu vực nội đô Hà Nội với nồng độ lần lượt dao động trong khoảng 0,22-3,92 ng/m<sup>3</sup> (trung vị 0,72 ng/m<sup>3</sup>) và 0,94-7,34 ng/m<sup>3</sup> (trung vị 3,09 ng/m<sup>3</sup>). Nồng độ (trung vị) của 4NP cao hơn 4,3 lần so với BPA, tuy nhiên không có sự biến thiên rõ rệt về nồng độ của BPA và 4NP trong bụi PM<sub>2.5</sub> giữa ban ngày và ban đêm ở cả hai vị trí nghiên cứu. Nghiên cứu bước đầu cung cấp thông tin có giá trị về hiện trạng các chất gây rối loạn nội tiết trong bụi PM<sub>2.5</sub>, là cơ sở giúp các nhà quản lý đề xuất giải pháp giảm thiểu sự phát tán và xử lý hiệu quả các chất ô nhiễm độc hại trong môi trường.</strong></p>Dương Thị HạnhNguyễn Thị Phương MaiNguyễn Tuấn Minh, Trịnh Minh Việt, Nguyễn Thị Phương Thảo
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3164Đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa và kháng nấm <i>Trichophyton rubrum</i> của chiết xuất lá trầu không (<i>Piper betle</i> L.) và lá neem (<i>Azadirachta indica</i> L.)
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3243
<p><strong>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng kháng nấm <em>Trichophyton rubrum</em> của chiết xuất lá trầu không (LT-Et96) và lá neem (LN-Et96) với dung môi ethanol. Hàm lượng phenolic tổng (TPC) được xác định bằng thuốc thử Folin-Ciocalteu và flavonoid tổng (TFC) được xác định bằng nhôm clorua. Khả năng kháng oxy hóa được đánh giá bằng phương pháp trung hòa gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH). Hiệu quả kháng nấm được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch, xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và diệt nấm tối thiểu (MFC). Kết quả ghi nhận hàm lượng TPC là 567,29±6,81 mg GAE/g và TFC là 21,59±0,98 mg QE/g đối với LT-Et96; ở mẫu LN-Et96 các giá trị này lần lượt là 161,79±5,12 mg GAE/g và 21,24±1,15 mg QE/g. Khả năng trung hòa 50% gốc tự do DPPH được ghi nhận ở nồng độ 1,005±0,527 mg/ml đối với LT-Et96 và 10,301±2,041 mg/ml đối với LN-Et96. Nồng độ MIC của LT-Et96 là 1 mg/ml và LN-Et96 là 10 mg/ml. Nồng độ MFC của LT-Et96 và LN-Et96 ở 48 giờ lần lượt là 4 và 40 mg/ml. Hỗn hợp phối trộn của các chiết xuất cho thấy hiệu quả kháng nấm đều đạt 100% ở các nghiệm thức nồng độ LT-Et96 1 mg/ml kết hợp với các nồng độ LN-Et96 khác nhau. Các kết quả cho thấy tiềm năng ứng dụng của các chiết xuất trong phát triển các sản phẩm hỗ trợ phòng ngừa hoặc kiểm soát nhiễm nấm da đầu có nguồn gốc từ nguyên liệu tự nhiên.</strong></p>Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh, Hoàng Thùy Dương, Lâm Hoàng Anh Thư, Ngô Hồng Loan, Phan Thị Kim NgânPhạm Thanh HồngNguyễn Hữu Tuyển
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3243Đặc điểm giải phẫu và sinh thái của <i>Pyrularia edulis</i> (Cervantesiaceae) ghi nhận tại Lào Cai, Việt Nam
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3414
<p><strong><em>Pyrularia edulis</em> một thành viên của chi <em>Pyrularia</em> (Cervantesiaceae) được ghi nhân phân bố ở Bhutan, China, India, Myanmar, Nepal, Sikkim và gần đây là Việt Nam. Một số nghiên cứu về đánh giá đa dạng thành phần loài và mối quan hệ phát sinh của <em>Pyrularia</em> đã được tiến hành. Tuy vậy, đến hiện tại các thông tin về giải phẫu hình thái của <em>Pyrularia</em> đặc biêt là <em>P. edulis</em> của châu Á còn rất hạn chế, chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu. Nghiên cứu này sử dụng mẫu vật của <em>Pyrularia edulis</em> thu tại Lào Cai, Việt Nam đã cung cấp một số thống tin cơ bản về đặc điểm sinh thái, giải phẫu của loài thực vật này. Kết quả của nghiên cứu thể hiện rằng, cấu tạo giải phẫu thân, lá, rễ của <em>P. edulis</em> tương đồng với thực vật hai lá mầm, tuy nhiên có nhiều điểm đặc trưng như xuất hiện mô dày góc ở phần vỏ của thân thứ cấp, các tinh thể canxi oxalat ở thân và lá. Các đặc điểm cấu tạo của thân, lá, rễ của <em>Pyrularia edulis</em> thể hiện sự thích nghĩ với đặc điểm sinh thái của một loài thực vật ưa sáng thuộc bộ Đàn hương, phân bố tại khu vực ven rừng.</strong></p>Đỗ Thị Lan HươngPhạm Thị Bích HàVũ Thị Hồng LêLê Chí Toàn
Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3414Tinh chế tiểu phần LukF-PV của độc tố Panton-Valentine leukocidin từ <i>Staphylococcus aureus</i> biểu hiện trong <i>Escherichia coli</i> và tạo kháng huyết thanh ở chuột
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3156
<p><strong>LukF-PV là một trong hai tiểu phần của yếu tố độc lực Panton-Valentine leukocidin (PVL) của <em>Staphylococcus aureus</em> (<em>S. aureus</em>). Tiểu phần LukF-PV có khả năng liên kết với tiểu phần LukS-PV theo tỷ lệ 4:4 để hình thành cấu trúc octameric, tạo lỗ trên màng và phá hủy tế bào bạch cầu vật chủ. Nghiên cứu này nhằm thu nhận protein LukF-PV được dung hợp với đuôi 6xHis (6xHis-LukF-PV) và tạo kháng huyết thanh trên chuột. Khi sử dụng các điều kiện nuôi cấy với nhiệt độ, nồng độ chất cảm ứng và thời gian sau cảm ứng phù hợp, sự biểu hiện 6xHis-LukF-PV trên chủng chủ <em>E. coli</em> BL21(DE3) đạt mức khoảng 30% tổng số protein nội bào. Dựa vào sắc ký ái lực, protein 6xHis-LukF-PV đã được thu nhận với nồng độ 2,45 mg/ml, độ tinh sạch 95% và hiệu suất thu nhận 6,75 mg/l môi trường LB. Kháng huyết thanh được tạo ra từ chuột thu được có hiệu giá kháng thể 1/160.000. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp cung cấp thông tin và nguyên liệu cho các nghiên cứu tiếp theo trong phòng ngừa và điều trị bệnh do <em>S. aureus</em> gây ra.</strong></p>Lê Dương Vương, Phan Diễm MyPhan Thị Phượng TrangNguyễn Hữu Ngọc TuấnĐặng Thủy TiênNguyễn Đức Hoàng
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3156Kỹ thuật Multiplex-PCR khuếch đại trình tự lặp lại ngắn (STR) trong phân tích di truyền liên kết gen <i>GAA</i> ứng dụng trong chẩn đoán bệnh Pompe
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3442
<p><strong>Mục tiêu: Hoàn thiện kỹ thuật Multiplex-PCR khuếch đại đồng thời các chỉ thị trình tự lặp lại ngắn (STR) gần gen <em>GAA</em>, phục vụ phân tích di truyền liên kết chẩn đoán bệnh Pompe. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thực hiện trên một gia đình gồm bố, mẹ và ba người con, trong đó một người con mắc bệnh Pompe, mang biến thể đồng hợp tử của gen <em>GAA</em>: c.1933G>C (p.Asp645His). Phản ứng Multiplex-PCR được tối ưu khuếch đại đồng thời các STR gần <em>GAA</em>, điện di mao quản phân tích kiểu gen STR và so sánh đối chiếu với kết quả giải trình tự Sanger. Kết quả: Đã hoàn thiện thành công kỹ thuật Multiplex-PCR khuếch đại 6 STR: D17S802, D17S1806, D17S784, D17S928, D17S78.0 và D17S78.57. Kết quả điện di mao quản cho thấy, các STR được khuếch đại đặc hiệu, tín hiệu rõ ràng. Phân tích kiểu gen STR phù hợp với kết quả giải trình tự Sanger. Kết luận: Đã hoàn thiện kỹ thuật Multiplex-PCR khuếch đại STR liên kết gen <em>GAA</em> phục vụ phân tích di truyền liên kết. Kỹ thuật có tiềm năng ứng dụng trong chẩn đoán di truyền tiền làm tổ bệnh Pompe.</strong></p>Nguyễn Văn Phong, Triệu Tiến Sang*, Trần Văn Khoa, Nguyễn Thị Việt Hà, Nguyễn Hà Hương LyLê Văn Hải
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3442Tri thức bản địa của người Cơ Tu về sử dụng cây cỏ ở khu vực Tây Giang, thành phố Đà Nẵng
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3564
<p><strong>Người Cơ Tu là tộc người cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, thuộc nhóm ngôn ngữ MônKhơme. Kết quả nghiên cứu về tri thức sử dụng cây cỏ của người Cơ Tu tại khu vực Tây Giang (tỉnh Quảng Nam cũ nay là thành phố Đà Nẵng) đã ghi nhận 176 loài thực vật bậc cao có mạch được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: cây thuốc 112 loài (63,63%); rau, quả ăn được 56 loài (31,81%); cây dùng làm men rượu và ngâm rượu 20 loài (chiếm 11,36%); cây đan lát (thủ công mỹ nghệ, gói bánh) 15 loài (chiếm 8,52%); cây cho gỗ làm nhà, sàn nhà 11 loài (6,25%); cây độc 3 loài (chiếm 1,7%); cây dùng để nhuộm 2 loài (1,13%); vật liệu làm đàn 2 loài (1,13%); cây dùng trong nghi lễ tâm linh và mục đích khác 8 loài (4,54%). Nghiên cứu cũng ghi nhận sự đa dạng về bộ phận sử dụng, trong đó lá được sử dụng nhiều nhất (31,81%), tiếp đến là củ và rễ (29,54%); ít được sử dụng nhất là nhựa và hạt (3,41%).</strong></p>Lưu Đàm Ngọc AnhBùi Văn HướngTrịnh Xuân ThànhNguyễn Thị Kim Thanh, Hoàng Thùy Linh
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3564Ảnh hưởng của phương thức nuôi đến một số chỉ tiêu tinh dịch của gà trống Nòi lai
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3276
<p><strong>Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá số lượng và chất lượng tinh trùng của gà Nòi lai ở hai phương thức nuôi nền và nuôi lồng tại trại chăn nuôi thuộc xã Cái Nhum, tỉnh Vĩnh Long từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2024. Tổng số 30 mẫu được chia ngẫu nhiên theo 2 phương thức nuôi: nền hoặc lồng (15 gà trống/phương thức nuôi). Mẫu tinh dịch được thu thập bằng phương pháp mát xa bụng và đánh giá các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch tại Phòng thực hành chẩn đoán thú y, Trường Đại học Tây Đô. Kết quả cho thấy, gà nuôi nền có thể tích tinh dịch (0,46±0,07 ml) và nồng độ tinh trùng (3,28x109/ml) cao hơn (P<0,05) so với gà nuôi lồng (0,40 ml và 2,96x109/ml). Tuy nhiên, giá trị pH tinh dịch ở nhóm nuôi nền (7,19) thấp hơn (P<0,05) so với nuôi lồng (7,32). Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của gà nuôi nền (3,85) cao hơn (P<0,05) so với nuôi lồng (3,13%). Khối lượng cơ thể có mối tương quan âm (-0,12) có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ sống của tinh trùng (P<0,01), tỷ lệ sống của tinh trùng có mối tương quan dương (0,569) với hoạt lực tinh trùng (P<0,001) và tương quan âm (-0,528) với tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (P<0,001). Ngoài ra, nồng độ tinh trùng có mối tương quan âm (-0,125) với giá trị pH tinh dịch (P<0,01). Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, sử dụng phương thức nuôi nền để cải thiện thể tích tinh dịch và nồng độ tinh của gà Nòi lai.</strong></p>Phan Nhân* , Nguyễn Minh Trí
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3276Chế tạo than hoạt tính từ vỏ trấu và đánh giá khả năng hấp phụ methylene blue
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3455
<p><strong>Vật liệu than hoạt tính ứng dụng trong lĩnh vực hấp phụ chất màu hữu cơ methylene blue (MB) đã được chúng tôi chế tạo từ vỏ trấu bằng phương pháp than hóa, sau đó hoạt hóa bằng NaOH với các nồng độ khác nhau và kết hợp với acid nitric và acid citric để nâng cao độ xốp, tăng diện tích bề mặt. Các kết quả phân tích kính hiển vi điện tử quét (SEM), Brunauer-Emmett-Teller (BET) cho thấy, vật liệu thu được có diện tích bề mặt tăng từ 55,47 đến 300,20 m2/g sau khi được hoạt hóa. Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) cho thấy, vật liệu hấp thụ mạnh trong vùng từ 2000 đến 400 cm-1 với các peak hấp thụ đặc trưng các liên kết của than hoạt tính. Khả năng hấp phụ MB của vật liệu phụ thuộc vào nồng độ NaOH khi hoạt hóa, cũng như độ pH và nồng độ MB trong dung dịch. Mẫu than hoạt tính được hoạt hóa bằng NaOH với nồng độ 0,3 M và acid citric cho khả năng hấp phụ MB lớn nhất lên đến 200 mg/g. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vật liệu này đáp ứng tốt trong việc ứng dụng làm vật liệu hấp phụ chất màu hữu cơ MB có trong môi trường nước thải công nghiệp dệt.</strong></p>Lê Hữu Quỳnh Anh* , Trần Duy Hải
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2026.3455Điều chế và đánh giá hệ phân phối thuốc vi tự nhũ rắn chứa fexofenadin hydroclorid
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3507
<p><strong>Fexofenadin hydroclorid (FH) là thuốc kháng histamin thế hệ thứ hai, đối kháng chọn lọc thụ thể H1 ngoại vi, sử dụng trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa và mày đay tự phát mạn tính. FH thuộc nhóm IV theo Hệ thống phân loại sinh dược học nên có độ tan và tính thấm hạn chế. FH là cơ chất của P-glycoprotein (P-gp) góp phần làm giảm hấp thu và sinh khả dụng đường uống của FH (33%). Hệ vi tự nhũ (SMEDDS) được chọn nhằm khắc phục các nhược điểm của FH. Mục tiêu của nghiên cứu là điều chế công thức (CT) SMEDDS nhằm cải thiện độ hòa tan của FH. CT SMEDDS chứa FH (SMEDDS-FH) bao gồm Dubcare GPE 810, Tween 20, Transcutol HP với tỷ lệ 20:20:60 (kl/kl) và tải được 12,28% FH. CT có độ bền trong các môi trường phân tán, độ bền nhiệt động và đạt kích thước giọt trung bình và thế zeta lần lượt là 47,17 nm và +19,6 mV. SMEDDS-FH được hóa rắn (S-SMEDDS-FH) bằng cách hấp phụ lên Florite R. SMEDDS-FH, SSMEDDS-FH và viên nén đối chiếu đều giải phóng hoạt chất trên 85% sau 10 phút. CT SMEDDS-FH và S-SMEDDS-FH đạt các tiêu chuẩn về SMEDDS, thể hiện tiềm năng cải thiện sinh khả dụng đường uống của FH.</strong></p>Trần Văn ThànhNguyễn Đức KhảiPhan Thanh Dũng
Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2025.3507Ứng dụng than sinh học từ phế phẩm nông nghiệp để loại bỏ amoni, phosphat và oxytetracyclinetrong nước thải nông nghiệp
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/2744
<p><strong>Than sinh học (TSH) có nguồn gốc thiên nhiên trên cơ sở tận dụng một số phế phẩm nông nghiệp như lõi ngô, xơ dừa, trấu và bã mía đã được tổng hợp bằng phương pháp đốt thiếu khí và ủ cát. Vật liệu sau khi tổng hợp đã được ứng dụng để loại bỏ phosphat, amoni và dư lượng kháng sinh oxytetracycline trong nước thải nông nghiệp. Vật liệu đạt cân bằng hấp phụ sau 10 phút và có pH hấp phụ tối ưu tại pH 5 đối với PO<sub>4</sub><sup>3-</sup>, pH 7 đối với oxytetracycline (OTC) và pH 9 đối với NH<sub>4</sub><sup>+</sup>. Dữ liệu cân bằng hấp phụ phù hợp với mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir với tải trọng hấp phụ cực đại dao động trong khoảng 7,78-9,16 mg/g đối với NH<sub>4</sub><sup>+</sup>; 4,80-6,32 mg/g đối với PO<sub>4</sub><sup>3-</sup>; 3,04-4,38 mg/g đối với OTC. Các loại TSH này được ứng dụng để xử lý chất ô nhiễm trong mẫu nước thải nông nghiệp tại địa phương và có tải lượng 5,17-7,99 mg/g đối với NH<sub>4</sub><sup>+</sup>; 3,71-5,97 mg/g đối với PO<sub>4</sub><sup>3-</sup> và 2,14-4,14 mg/g đối với OTC.</strong></p>Đoàn Minh Anh, Phạm Thị Trang, Vũ Mai Anh, Bùi Thị Lam, Hoàng Trung Nam, Trần Thị Ngọc Anh, Đinh Thị Thúy Hằng*
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2024.2744Tối ưu hóa điều kiện sấy phun và đánh giá ảnh hưởng của bao bì bảo quản đến chất lượng bột chanh dây tím (<i>Passiflora edulis</i>)
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3997
<p><strong>Chanh dây (<em>Passiflora edulis</em>) là một loại trái cây được trồng phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là loại quả có hương vị đặc trưng, giàu vitamin và khoáng chất nên được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, đồ uống, dược phẩm, mỹ phẩm. Do có tính mùa vụ, dễ bị hư hỏng nên chanh dây có thể được bảo quản dưới dạng đông lạnh, sấy phun, sấy đông khô,... Trong nghiên cứu này, phương pháp sấy phun được sử dụng để tạo bột chanh dây bằng hệ chất mang maltodextrin – gum arabic (4:1). Mười bảy thí nghiệm đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của nồng độ chất mang (8, 10, 12% w/v), nhiệt độ không khí đầu vào (150, 160, 170ºC) và tốc độ bơm nhập liệu (10, 15, 20 vòng/phút). Ảnh hưởng của nồng độ chất mang, nhiệt độ không khí đầu vào và tốc độ bơm nhập liệu được đánh giá bằng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) Box-Behnken để tạo ra bột chanh dây có chất lượng tốt nhất. Kết quả thực nghiệm tối ưu ở nồng độ chất mang 10%, nhiệt độ không khí đầu vào 150ºC và tốc độ bơm nhập liệu 12 vòng/phút cho hiệu suất thu hồi 80,8%, hàm lượng ẩm 3,11% và hàm lượng polyphenol tổng số 166,5 mgGAE/100g. Bột chanh dây được bảo quản bằng túi ghép màng nhôm 3 lớp (PET/AL/PE) ở điều kiện nhiệt độ phòng giúp duy trì độ ẩm, hàm lượng polyphenol tổng số tốt nhất so với các bao bì PA, PE sau 6 tháng bảo quản.</strong></p>Trương Thị Chiên, Trần Bảo Trâm, Đỗ Thị Kim TrangNguyễn Thị Thanh MaiVũ Xuân Tạo
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2026.3997Phân tích vector Alpins trong đánh giá điều chỉnh loạn thị sau phẫu thuật SMILE Pro bằng VISUMAX 800
https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4001
<p><strong>Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị loạn thị của hệ thống laser femtosecond VisuMax 800 trong phẫu thuật SMILE Pro thông qua phân tích vector Alpins với bộ chỉ số đầy đủ. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 80 mắt (40 bệnh nhân) phẫu thuật SMILE Pro tại Bệnh viện Mắt Sài Gòn Ngô Gia Tự, từ tháng 12/2024 đến tháng 9/2025. Phân tích vector Alpins thực hiện trên 74 mắt có vector loạn thị mục tiêu (Target Induced Astigmatism vector, TIA) ≥0,25 D bằng phần mềm AstigMATIC; biểu đồ kết quả chuẩn hóa tạo bằng phần mềm Meyestro. Kết quả: TIA 1,00±0,53 D; vector loạn thị thực tế (Surgically Induced Astigmatism vector, SIA) 0,98±0,51 D; vector sai lệch (Difference Vector, DV) 0,08±0,03 D; chỉ số điều chỉnh (Correction Index, CI) 0,94±0,02; R²=0,97 (y=0,94x+0,05). 99% mắt có sai số trục (Angle of Error, |AOE|) ≤5°; 100% DV ≤0,5 D. Sau 3 tháng, 95% mắt có độ loạn thị tồn dư ≤0,25 D và 100% ≤0,50 D. Kết luận: SMILE Pro với VisuMax 800 đạt độ chính xác điều chỉnh loạn thị theo phân tích vector Alpins với CI=0,94±0,02; DV=0,08±0,03 D; AOE=0,06±1,60° (99% trong ±5°); R²=0,97. Kết quả cải thiện so với SMILE thế hệ trước, trong đó hệ thống bù trừ cyclotorsion OcuLign đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát độ chính xác trục loạn thị.</strong></p>Hà Minh Hữu Tài*, Phạm Quốc Tiến, Nguyễn Ngọc Anh TúNguyễn Phạm Dũng
Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2026-06-252026-06-2568610.31276/VJST.2026.4001