Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b vi-VN Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1859-4794 Nghiên cứu thành phần hóa thực vật của hoa Chiều tím <i>Ruellia brittoniana</i> L. https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3587 <p><strong>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích và xác định một số thành phần hóa thực vật của cao chiết từ hoa Chiều tím (<em>Ruellia brittoniana</em> L.) bằng cách áp dụng các phương pháp phân tách sắc ký kết hợp với các kỹ thuật phân tích hiện đại. Từ phân đoạn n-hexane, hai hợp chất lupeol (1) và 3,4-seco-friedelan-3-oic acid (2) đã được phân lập. Phân đoạn ethyl acetate đã phân lập được thêm bốn hợp chất: quercetin (3), apigenin (4), 2-O-methyl-α-D-fructofuranoside (5), và apigenin 7-O-β-D-glucuronide methyl ester (6). Việc giải đoán cấu trúc hóa học và nhận danh các hợp chất này dựa trên các số liệu phổ ESI-MS, 1H-NMR và 13C-NMR, kết hợp với việc so sánh với các tài liệu đã công bố trước đây. Trong sáu hợp chất được nhận danh có ba hợp chất 2, 5 và 6 lần đầu tiên được báo cáo hiện diện ở hoa Chiều tím. Kết quả này góp phần bổ sung hiểu biết về thành phần hóa thực vật của loài, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính sinh học, đánh giá dược lý và tiềm năng ứng dụng các hợp chất tự nhiên trong lĩnh vực dược liệu.</strong></p> Nguyễn Phúc Đảm, Ngô Việt Thắng Nguyễn Văn Kiệt Phùng Thị Hằng, Hồ Hoàng Việt, Thái Thị Tuyết Nhung, Ngô Quốc Luân* Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3587 Tổng hợp vật liệu nano ZnO pha tạp Pr và ứng dụng trong phân hủy xanh methylene https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3588 <p><strong>Các hạt nano kẽm oxit (ZnO) pha tạp praseodymium (Pr) được tổng hợp bằng phương pháp kết tủa và nung ở các nhiệt độ 900, 1000 và 1100°C nhằm khảo sát hoạt tính xúc tác phân hủy xanh methylene (MB) của chúng với ánh sáng mặt trời. Các đặc trưng tính chất của các hạt nano ZnO pha tạp được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD), phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR), kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FESEM) và phổ hấp thụ UVVis. Kết quả phân tích FTIR và XRD chứng tỏ có các liên kết Pr–O ở các hạt ZnO pha tạp Pr, với cấu trúc pha chính là wurtzite ZnO và pha phân tán là Pr6O11. Ảnh FESEM cho thấy, các hạt nano có kích thước nhỏ hơn 100 nm, tuy nhiên vẫn có hiện tượng kết tụ hạt sau khi nung. Hiệu suất xúc tác quang của cả ZnO đơn thuần và ZnO pha tạp Pr đều giảm khi nhiệt độ nung tăng từ 900 lên 1100°C. Mẫu ZnO pha tạp 0,5% khối lượng Pr và nung ở 900°C thể hiện hoạt tính xúc tác quang cao nhất, đạt hiệu suất phân hủy MB là 99,0% sau 5 giờ phơi nắng. Những kết quả này cho thấy, pha tạp Pr là một biện pháp tốt để cải thiện hoạt tính xúc tác quang của các hạt nano ZnO với bức xạ mặt trời.</strong></p> Đỗ Quang Thẩm Nguyễn Thị Xuyên Nguyễn Tuấn Anh Phạm Quang Dương Đặng Xuân Hiếu Vũ Thị Lê Nguyễn Trung Huy Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3588 Phân lập và tinh chế cordycepin từ quả thể <i>Cordyceps militaris</i> nuôi trồng tại Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3612 <p><strong>Cordycepin (3’-deoxyadenosine) là hợp chất chính có hoạt tính sinh học được tìm thấy trong nấm dược liệu <em>Cordyceps militaris</em> (<em>C. militaris</em>). Dẫn xuất nucleoside này không chỉ được xem là chỉ thị hóa học quan trọng để đánh giá chất lượng và độ xác thực của các sản phẩm từ C. militaris, mà còn có tiềm năng ứng dụng đáng kể trong lĩnh vực dược phẩm. Tuy nhiên, các phương pháp tinh chế cordycepin được công bố trước đây thường có kỹ thuật phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí cao và hiệu suất thấp. Nghiên cứu này đã xây dựng và tối ưu hoá một quy trình đơn giản và hiệu quả để phân lập và tinh chế cordycepin từ quả thể <em>C. militaris</em> nuôi cấy nhân tạo. Quy trình tối ưu này bao gồm sự kết hợp giữa chiết dung môi, sắc ký cột pha thường và loại bỏ tạp chất thông qua kết tủa chọn lọc. Cách tiếp cận tích hợp này cho phép thu hồi cordycepin với độ tinh khiết cao, đã được xác nhận bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và so sánh với dữ liệu tham khảo. Quy trình đạt hiệu suất phân lập đáng kể, đồng thời cho thấy tiềm năng cải thiện hiệu quả thu hồi cordycepin so với một số phương pháp đã được công bố trước đây. Quy trình của nhóm nghiên cứu mang lại giải pháp thực tiễn, có thể mở rộng quy mô và có tiềm năng ứng dụng trong phát triển dược phẩm từ hợp chất đầy hứa hẹn này.</strong></p> Nguyễn Thanh Ngân Mạc Đình Hùng Trần Văn Tuấn Vũ Xuân Tạo Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3612 Đặc điểm kháng kháng sinh và gen độc lực của 7 chủng <i>Pseudomonas aeruginosa</i> trong nước đóng chai, đóng bình tại Hà Nội https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3471 <p><strong><em>Pseudomonas aeruginosa</em> là vi khuẩn cơ hội có khả năng kháng kháng sinh cao và mang nhiều yếu tố độc lực, gây nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng khi hiện diện trong nước uống. Nghiên cứu này được thực hiện trên 50 mẫu nước đóng chai và đóng bình tại Hà Nội nhằm xác định tỷ lệ nhiễm, đặc điểm kháng kháng sinh và hồ sơ gen độc lực của P. aeruginosa. Kết quả cho thấy, 38% mẫu dương tính với <em>P. aeruginosa</em>. Các chủng phân lập thể hiện tỷ lệ kháng cao với cephalosporin thế hệ 3-4 và aminoglycoside, trong khi nhạy với doripenem và piperacillin-tazobactam (100%). Phân tích gen độc lực cho thấy, các chủng mang đồng thời nhiều gen độc lực thuộc hệ thống tiết type II và III (<em>exo</em>A, <em>exo</em>Y, <em>exo</em>S, <em>exo</em>U) và hệ thống quorum sensing (<em>las</em>A, <em>las</em>B, <em>rhl</em>AB, rhlI, <em>las</em>I, <em>las</em>R), cho thấy tiềm năng hình thành biofilm và gây bệnh cao. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của việc giám sát vi sinh định kỳ và kiểm soát chặt chẽ chất lượng nước uống đóng chai.</strong></p> Phạm Ngọc Hà, Vũ Khánh Vân, Phạm Văn Quân, Ninh Thị Hạnh Nguyễn Hùng Thanh Lý Công Hiếu Đỗ Văn Huy Lê Thị Phương Thảo Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3471 Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi khám tại Viện Dinh dưỡng năm 2025 https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3578 <p><strong>Suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ dưới 5 tuổi vẫn đang là một trong những thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 224 trẻ 0-59 tháng tuổi đến khám tại Khoa Khám tư vấn dinh dưỡng trẻ em, Viện Dinh dưỡng năm 2025 và mẹ của trẻ. Trẻ được đo các chỉ số nhân trắc về cân nặng, chiều cao hoặc chiều dài cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Kết quả cho thấy, tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 32,6, 31,2 và 17,4%. Tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì là 2,7%. Tỷ lệ trẻ mắc ít nhất một thể SDD là 49,1%; thấp còi đơn thuần là 11,6%; thấp còi phối hợp nhẹ cân là 19,2% và cả ba thể phối hợp là 7,6%. Kết quả cho thấy, trẻ đến khám tại Khoa Khám tư vấn dinh dưỡng trẻ em, Viện Dinh dưỡng có tỷ lệ SDD các thể ở mức cao, cần tăng cường can thiệp dinh dưỡng sớm và cá nhân hóa cho trẻ trong 1.000 ngày đầu đời.</strong></p> Trần Thị Liên, Phạm Thị Dung*, Phạm Thị Kiều Chinh Trần Thị Lan Nguyễn Trọng Hưng Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3578 Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn tía không lưu huỳnh từ ao nuôi thủy sản tại Ninh Bình và đánh giá khả năng loại bỏ sulfide trong điều kiện phòng thí nghiệm https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3653 <p><strong>Nghiên cứu với mục tiêu phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn tía không lưu huỳnh từ 10 mẫu nước và 15 mẫu bùn của các ao nuôi thủy sản khác nhau tại tỉnh Ninh Bình, Việt Nam nhằm xác định những chủng có tiềm năng xử lý sulfide trong nước, từ đó góp phần cải thiện chất lượng nước, nâng cao năng suất và giảm rủi ro dịch bệnh trong các ao nuôi thủy sản. Kết quả phân lập được 17 chủng vi khuẩn có tiềm năng xử lý sulfide, trong đó 2 chủng ND2 và NH6 có khả năng xử lý sulfide cao nhất (&gt;96%) trong điều kiện sulfide từ 10 đến 20 mg/l. Chủng ND2 và NH6 sinh trưởng tốt nhất ở 2% NaCl với giá trị OD<sub>660nm</sub> lần lượt đạt 1,03 và 1,15, sau đó giảm khi tăng 3-5% NaCl. Chủng ND2 và NH6 có khả năng xử lý sulfide cao trong môi trường 2-3% NaCl, hiệu suất xử lý lần lượt đạt 97,48 và 96,40% tại 2% NaCl. Hiệu suất xử lý sulfide giảm ở 4-5% NaCl, hiệu suất xử lý sulfide của chủng ND2 và NH6 lần lượt đạt 86,79 và 84,84% ở 5% NaCl. Chủng ND2 sinh trưởng và xử lý sulfide tốt hơn chủng NH6 ở nồng độ muối cao 4-5%, được lựa chọn định danh sinh học phân tử xác định thuộc loài <em>Rhodovulum sulfidophilum</em>. Như vậy, <em>R. sulfidophilum</em> ND2 có tiềm năng cao ứng dụng xử lý hiệu quả sulfide trong nước nuôi trồng thủy sản.</strong></p> Hoàng Thị Ngọc Anh*, Trần Thị Bảo Yến, Nguyễn Võ Trà My, Nguyễn Thị Hồng Tâm, Nguyễn Thúy Hằng Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3653 Ảnh hưởng của thời gian khuấy gia nhiệt đến hoạt tính quang xúc tác của g-C<sub>3</sub>N<sub>4</sub> pha tạp Mg https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3652 <p><strong>Trong nghiên cứu này, vật liệu graphite carbon nitride (g-C₃N₄) pha tạp kim loại Mg được tổng hợp thành công bằng phương pháp hóa học đơn giản, với thời gian phản ứng từ 3 đến 18 giờ, kết hợp xử lý nhiệt ở 90°C. Cấu trúc tinh thể và trạng thái hóa học của vật liệu được đặc trưng bằng phổ nhiễu xạ tia X (XRD), phổ Raman và phổ quang điện tử tia X (XPS); trong khi đó, các tính chất quang học được đánh giá thông qua phổ hấp thụ UV-Vis và huỳnh quang (PL). Hoạt tính quang xúc tác được khảo sát thông qua quá trình phân hủy dung dịch hữu cơ Rhodamine B (RhB) dưới sự chiếu sáng của đèn Xenon và ánh sáng mặt trời. Kết quả cho thấy, các mẫu sau khi pha tạp Mg đều thể hiện hoạt tính quang xúc tác cao hơn so với g-C₃N₄ tinh khiết. Sự cải thiện này được cho là do sự hiện diện của ion Mg<sup>2+</sup> đóng vai trò “tâm bẫy” electron, giúp hạn chế quá trình tái hợp cặp electron - lỗ trống. Đồng thời, việc chèn Mg vào cấu trúc heptazine làm tăng diện tích bề mặt riêng, từ đó nâng cao hiệu quả quang xúc tác của vật liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc pha tạp Mg với hàm lượng 10% vào vật liệu nền g-C₃N₄, kết hợp với việc tối ưu hóa thời gian chế tạo, là điều kiện phù hợp nhất nhằm nâng cao hoạt tính quang xúc tác của vật liệu. Kết quả này cho thấy thời gian tổng hợp có ảnh hưởng đáng kể đến tính chất và hiệu suất quang xúc tác của vật liệu.</strong></p> Đoàn Thị Thúy Phượng Lê Thị Mai Oanh Đỗ Khắc Thịnh Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3652 Cơ sở khoa học lựa chọn khung vệ tinh viễn thám tầm thấp cho Việt Nam https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3700 <p><strong>Vệ tinh viễn thám tầm thấp (vệ tinh VTTT) đóng vai trò quan trọng trong hình thành năng lực quan sát Trái Đất của một quốc gia. Khung vệ tinh bao gồm các cấu phần kỹ thuật đảm bảo hoạt động của các payload (thiết bị quan sát) trên vệ tinh VTTT. Việc lựa chọn khung này được dựa trên các tiêu chí như thời gian triển khai, cơ hội và chi phí phóng, khả năng tích hợp và làm chủ công nghệ, thời gian sống trên quỹ đạo, mục tiêu ứng dụng và xu hướng trên thế giới. Thông qua nghiên cứu và đánh giá các khung vệ tinh VTTT phổ biến và kết quả đã đạt được từ các chương trình vệ tinh quan sát Trái Đất của Việt Nam như VNREDSat-1, nhóm tác giả tập trung phân tích và đề xuất lựa chọn khung vệ tinh cỡ nhỏ (100 đến 500 kg), có khả năng mở rộng thành chùm vệ tinh lưỡng dụng. Đề xuất này hướng tới việc Việt Nam làm chủ công nghệ vệ tinh tầm thấp theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời học hỏi và tiếp thu công nghệ từ các nước phát triển, cũng như gắn với Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg.</strong></p> Ngô Duy Tân Bùi Trọng Tuyên Bùi Quang Huy, Nguyễn Đức Hiếu, Lê Quang Toan, Phạm Anh Tuấn, Phùng Đức Thưởng, Trần Kim Chi, Vũ Thị Dung Phạm Ngọc Minh Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3700 Tăng cường khả năng hòa tan bùn và thay đổi cấu trúc bông bùn bằng phương pháp thủy phân nhiệt ở nhiệt độ thấp https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3762 <p class="tomtatctrl4"><strong>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của xử lý nhiệt 50-90°C trong 0,5-24 giờ đến đặc tính lý hóa, cấu trúc vi mô và khả năng hòa tan của bùn hoạt tính thải từ trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị. Xử lý nhiệt gây biến đổi đáng kể về sinh khối và khả năng lắng: chất rắn lơ lửng trong nước thải hỗn hợp (MLSS) giảm khoảng 11%, chỉ số thể tích bùn tăng từ 112 đến 189 ml/g, phản ánh sự suy yếu cấu trúc bông bùn và mạng polyme ngoại bào (EPS). Ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy thay đổi từ bông bùn đặc, kết dính sang cấu trúc phân mảnh, xốp sau xử lý ở 80°C, chứng tỏ EPS dễ bị phá vỡ do nhiệt. Khả năng hòa tan chất hữu cơ tăng rõ rệt theo nhiệt độ và thời gian. Khả năng hòa tan còn hạn chế ở 50-60°C, nhưng ở 80-90°C làm nhu cầu oxy hóa học dạng hoà tan tăng 2,5-3,3 lần (1450-1504 mg/l), tỷ lệ nhu cầu oxy hóa học dạng hoà tan/nhu cầu oxy hóa học tổng số là 4,6-15,7%, chủ yếu trong 5-10 giờ đầu nhờ phân hủy EPS dễ phân hủy và thành phần nội bào. Kết quả khẳng định thủy phân nhiệt ở nhiệt độ thấp (LT-THP) là giải pháp tiềm năng, tiết kiệm chi phí để cải thiện phân hủy kỵ khí và thu hồi năng lượng từ bùn thải đô thị.</strong></p> Lê Ngọc Thuấn, Vũ Thị Mai, Nguyễn Xuân Lan Nguyễn Thị Thu Hà Bản quyền (c) 2025 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3762 Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật bảo quản hạt dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3677 <p><strong>Nghiên cứu xác định các thông số kỹ thuật trong xử lý và bảo quản hạt dẻ Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng cũ) nhằm kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng. Hạt dẻ nguyên vỏ được xử lý bằng dung dịch 0,2% NaCl và 0,2% axit citric trong 30 phút, sau đó sấy ở 60°C trong 4,5 giờ để giảm ẩm xuống khoảng 40%. Sản phẩm được đóng gói chân không bằng bao bì polyethylene (PE), polypropylene (PP), polyamide (PA) và được bảo quản ở các mức nhiệt độ khác nhau (15, 5, 0, -10 và -18°C). Kết quả cho thấy, hạt dẻ đóng trong bao bì PA hút chân không bảo quản ở nhiệt độ -18°C giúp ức chế hoạt động của vi sinh vật, hạn chế oxy hóa, giữ được chất lượng ổn định có thể bảo quản đến 12 tháng mà vẫn đảm bảo chất lượng tương đương hạt dẻ trước bảo quản. Kết quả góp phần đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp bảo quản nguyên liệu hạt dẻ vào mùa vụ tại địa phương với điều kiện sản xuất nhỏ và vừa, ổn định chất lượng hạt dẻ và phát triển thương hiệu đặc sản hạt dẻ Trùng Khánh theo hướng bền vững.</strong></p> Mã Thị Bích Thảo*, Trần Hà1, Nguyễn Phương, Trịnh Phan Mạnh, Bùi Bích Thùy, Phùng Phương Anh Hoàng Văn Tuấn Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3677 Ảnh hưởng của bột quả xoài (<i>Mangifera indica</i> L.) đến tính chất vật lý, hoạt tính chống oxy hóa và giá trị cảm quan của bánh mì https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3550 <p><strong>Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ bổ sung bột quả xoài tối ưu để cải thiện chất lượng bánh mì. Bột quả xoài được bổ sung vào công thức phối trộn bánh mì ở các tỷ lệ khác nhau (0, 5, 10, 15 và 20%) để đánh giá sự thay đổi về đặc tính lý-hóa và cảm quan. Nghiên cứu khảo sát các chỉ tiêu: tỷ lệ tăng thể tích, độ cứng vỏ bánh, hàm lượng polyphenol, flavonoid, khả năng khử gốc tự do (DPPH) và đánh giá cảm quan. Kết quả cho thấy, khi bổ sung 10% bột quả xoài, bánh mì đạt chất lượng tốt nhất với tỷ lệ tăng thể tích 5,55 lần, độ cứng vỏ bánh 0,56 N, hàm lượng polyphenol 0,42 mg Gallic Acid Equivalent (GAE)/g, flavonoid 0,16 mg Quercetin Equivalent (QE)/g và khả năng DPPH đạt 15,25%. Về cảm quan, sản phẩm được đánh giá cao với điểm màu sắc 8,37; mùi 8,13; vị 8,63; cấu trúc 7,97 và mức độ ưa thích chung là 8,53 điểm. Như vậy, việc bổ sung 10% bột quả xoài giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng và cảm quan của bánh mì, góp phần phát triển sản phẩm mới từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, giàu chất chống oxy hóa và có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng.</strong></p> Trần Tiểu Yến*, Giáp Phạm Ngọc Trâm, Huỳnh Thị Hồng Nhung Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3550 Đánh giá giải trình tự gen thế hệ mới trong xác định lao kháng thuốc và khảo sát dòng vi khuẩn lao tại Bệnh viện Phổi Trung ương https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/4129 <p><strong>Mục tiêu: Đánh giá kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) sử dụng bộ kit Deeplex Myc-TB trong xác định lao kháng thuốc và khảo sát dòng vi khuẩn lao tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên 79 chủng vi khuẩn lao kháng thuốc được lưu tại kho chủng Khoa Vi sinh và Labo Lao chuẩn Quốc gia, Bệnh viện Phổi Trung ương bằng kỹ thuật NGS sử dụng bộ kit Deeplex Myc-TB trên nền tảng Illumina. Kết quả: Kỹ thuật NGS có độ tương đồng cao so với kỹ thuật kháng sinh đồ kiểu hình, đặc biệt đối với thuốc isoniazid và streptomycin. Các thuốc có độ tương đồng thấp hơn lần lượt là ethambutol, rifampicin, pyrazinamide, amikacin, kanamycin. Kết quả phân tích dịch tễ phân tử cho thấy, dòng lineage 2 (Beijing) chiếm ưu thế (84,8%). Tỷ lệ nhiễm hỗn hợp 41,8% chủ yếu ở cặp lineage 2 và lineage 2.2.1, phản ánh mối quan hệ loài gần và đa dạng tiến hóa của vi khuẩn. Kết luận: Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới có độ đồng thuận cao so với kỹ thuật kháng sinh đồ kiểu hình lỏng MGIT. Kết quả dịch tễ phân tử cho thấy, dòng lineage 2 (Beijing) chiếm ưu thế, phù hợp với xu hướng lưu hành của chủng này tại Việt Nam. Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm hỗn hợp 41,8% nhưng phần lớn là cặp lineage 2 và lineage 2.2.1 có quan hệ gần phản ánh đa dạng tiến hóa vi mô hơn so với việc nhiễm hai chủng độc lập.</strong></p> Đào Gia Bách Đinh Văn Lượng Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2026.4129 Thách thức trong điều trị lọc máu chu kỳ: Nghiên cứu định tính từ góc nhìn người bệnh và nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lai https://b.vjst.vn/index.php/ban_b/article/view/3707 <p><strong>Lọc máu chu kỳ (maintenance hemodialysis) là phương pháp điều trị thay thế thận được thực hiện đều đặn 2-3 buổi mỗi tuần nhằm duy trì cân bằng nội môi và sự sống cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối [1]. Bài báo mô tả khó khăn và thách thức trong điều trị lọc máu chu kỳ từ góc nhìn người bệnh và nhân viên y tế (NVYT) tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lai từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2025. Nghiên cứu định tính theo hiện tượng học. Phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 10 người bệnh và 6 NVYT. Các cuộc phỏng vấn được ghi âm và gỡ băng; dữ liệu mã hóa độc lập bởi hai nghiên cứu viên và phân tích theo Braun &amp; Clarke. Bão hòa thông tin được xem là đạt khi không phát sinh mã mới trong hai đến ba cuộc phỏng vấn liên tiếp. Xác định năm chủ đề: (1) gánh nặng kinh tế và cảm giác là gánh nặng cho gia đình; (2) gia đình là nguồn hỗ trợ vật chất và tinh thần chính; (3) hỗ trợ cộng đồng còn rời rạc; (4) ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần; (5) hạn chế hệ thống và nỗ lực NVYT. Bối cảnh địa phương (địa hình miền núi, trình độ học vấn còn thấp) làm tăng rào cản đi lại để tiếp cận dịch vụ, ảnh hưởng tiêu cực tới tuân thủ điều trị. Lọc máu chu kỳ tại Gia Lai là thách thức đa chiều. Cần các can thiệp tích hợp: tăng năng lực hệ thống, mở rộng hỗ trợ tâm lý và cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm cải thiện tuân thủ và chất lượng cuộc sống (QoL).</strong></p> Dương Hải Yến Lê Minh Thi Hoàng Lan Vân Bản quyền (c) 2026 Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2026-08-25 2026-08-25 68 8 10.31276/VJST.2025.3707