Chính sách an toàn vĩ mô và nợ xấu: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam
Từ khóa:
chiếu cục bộ, chính sách an toàn vĩ mô, nợ xấu, rủi ro tín dụng, thị trường mới nổi, Việt NamTóm tắt
Nghiên cứu phân tích mối liên hệ động giữa các hành động chính sách an toàn vĩ mô và tỷ lệ nợ xấu (NPL) của 19 ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2017-2023. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng theo quý và phương pháp chiếu cục bộ (local projection) cho dữ liệu bảng, với chân trời tối đa năm quý. Chính sách được đo bằng chỉ số tổng hợp chính sách an toàn vĩ mô (MaPP) và nhóm công cụ về vốn (CAP), tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LTD), nhóm công cụ về thanh khoản (LIQ) và nhóm công cụ hạn chế tín dụng (LoanR) từ cơ sở dữ liệu chính sách an toàn vĩ mô tích hợp (iMaPP) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Kết quả cho thấy, MaPP gắn với NPL thấp hơn trong ba quý đầu, nhưng không còn ý nghĩa thống kê tại quý thứ tư. CAP có mối liên hệ âm với độ trễ từ ba đến năm quý. LTD mang hệ số âm trong ba quý đầu, song kết quả chỉ được nhận diện từ một quý nới lỏng và không có sự kiện thắt chặt. Hệ số LIQ chuyển từ âm tại quý đầu sang dương tại quý thứ ba và thứ tư, trong khi LoanR mang hệ số dương ở tất cả các chân trời.
DOI:
https://doi.org/10.31276/VJST.2026.3983Chỉ số phân loại
5.2
Tải xuống
Đã xuất bản
Ngày nhận bài 13/6/2026; ngày chuyển phản biện 16/6/2026; ngày nhận phản biện 29/6/2026; ngày chấp nhận đăng 5/7/2026

